17 tháng 11, 2017


LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11

Lịch sử ngày nhà giáo Việt Nam 20/ 11

Tháng 01/1946, một tổ chức quốc tế các nhà giáo tiến bộ được thành lập ở Paris (thủ đô nước Pháp) lấy tên là FISE (Féderation International Syndicale des Enseignants - Liên hiệp quốc tế các Công đoàn Giáo dục).
Năm 1949, tại Hội nghị quốc tế Vacsava (Varsovie - Thủ đô của Ba Lan) tổ chức FISE xây dựng một bản "Hiến chương các nhà giáo" gồm 15 chương. 
Nội dung chủ yếu là đấu tranh chống nền giáo dục tư sản, phong kiến; xây dựng nền giáo dục tiến bộ; bảo vệ những quyền lợi vật chất và tinh thần chính đáng của nghề dạy học và nhà giáo.

Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Công đoàn Giáo dục Việt Nam đã liên hệ với FISE với mục đích tranh thủ các diễn đàn quốc tế, tố cáo âm mưu tội ác của bọn đế quốc xâm lược đối với nhân dân ta cũng như đối với giáo viên và học sinh.
Đồng thời, giới thiệu những thành tích của nền giáo dục cách mạng, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của toàn thể giáo viên trên thế giới đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta.

Mùa xuân năm 1953, Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn làm trưởng đoàn dự Hội nghị quan trọng kết nạp Công đoàn giáo dục của một số nước vào tổ chức FISE tại Viên (Thủ đô nước Áo), trong đó có Công đoàn Giáo dục Việt Nam.
Chỉ một thời gian ngắn sau khi thành lập (22/7/1951), Công đoàn giáo dục Việt Nam đã được kết nạp là một thành viên của FISE.
ừ ngày 26 đến 30/8/1957, tại Thủ đô Vacsava, Hội nghị FISE có 57 nước tham dự, trong đó có Công đoàn giáo dục Việt Nam, quyết định lấy ngày 20 tháng 11 làm ngày Quốc tế Hiến chương các nhà giáo.

Lần đầu tiên ngày "Quốc tế Hiến chương các nhà giáo" được tổ chức trên toàn miền Bắc nước ta vào ngày 20/11/1958.
Những năm sau đó, ngày lễ 20/11 còn được tổ chức tại các vùng giải phóng ở miền Nam.

Hàng năm, kỷ niệm lịch sử ngày 20/11, cơ quan tiểu ban giáo dục thường xuất bản, phát hành một số tập san đặc biệt để cổ vũ tinh thần đấu tranh của giáo viên trong vùng tạm chiếm nói riêng, động viên tinh thần chịu đựng gian khổ hy sinh của anh chị em giáo viên kháng chiến nói chung.

Theo đề nghị của ngành Giáo dục, ngày 28/9/1982 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 167 - HĐBT về ngày Nhà giáo Việt Nam. Trong đó có điều khoản quy định, lấy ngày 20/11 là ngày Nhà giáo Việt Nam.

Ngày 20/11/1982, là lễ kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam đầu tiên được tiến hành trọng thể trong cả nước ta. Từ đó đến nay, đây là ngày truyền thống của ngành giáo dục để tôn vinh những người làm công tác trồng người.
Ý nghĩa Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11

Ngày 20/11 là dịp để các thế hệ học trò bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với những người thầy, để mọi ngành, mọi nghề và toàn xã hội chia sẻ niềm vui, tri ân tới những người đã góp công sức và tâm huyết cho sự nghiệp trồng người cao cả, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.


**************************************************************
CẢM NGHĨ VỀ NGÀY 20/11


Cứ đến mùa thu mỗi năm, lòng tôi lại nao nức trông chờ ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, cũng là ngày để học trò chúng tôi tri ân các thầy cô giáo kính yêu. Thời gian trôi nhanh như chẳng hề chờ đợi ai, mới ngày nào còn là những cô cậu học trò lớp 6 bé tí, chúng tôi nay đã trưởng thành hơn qua từng năm tháng, sẵn sàng đôi cánh vươn lên bầu trời cao rộng ngoài kia. Để có được ngày hôm nay, công lao to lớn thuộc về những “người lái đò”, là người thầy, người cô dạy bảo lũ học trò chúng tôi từ con chữ cho đến cách làm người.
 Tôi còn nhớ cái ngày chập chững bước vào ngưỡng cửa của mái trường THCS, lòng tôi lại nôn nào mà lo sợ vẩn vơ, sợ mình lạc lõng trong ngồi trường to lớn này, sợ mình lại không có đủ sức mạnh khi rời xa cha mẹ. Nhưng thật may mắn làm sao, buông đôi tay cha mẹ, thầy cô lại là người nắm lấy tay tôi, chở che và bảo bọc tôi những năm tháng cấp hai ấy. Từ những ngày đầu tiên hay cho đến tận bây giờ, thầy cô vẫn là người dõi theo từng bước chân tôi. Tôi nhớ lời giảng của thầy, nhớ cái ôm động viên của cô, những hành động tưởng chừng nhở nhặt ấy lại chính động lực to lớn thúc đẩy chúng tôi tiến lên mỗi ngày.
 Tuổi học trò là đong đầy với nhiều kỉ niệm và khát khao cháy bỏng, là những mộng ước cho tương lai sau này. Ở trong giai đoạn lưng chừng năm cuối cấp, tôi lại cảm thấy có đôi chút nuối tiếc, nuối tiếc những giai thoại đẹp đẽ cùng bè bạn, thầy cô, nuối tiếc những buổi học mê say lòng người, nuối tiếc tình thầy trò gắn bó đậm sâu. Chúng tôi là những người cháy hết mình với đam mê, và người thắp lên ngọn đuốc cho đam mê ấy, chính là những thầy cô giáo. Kể làm sao hết công lao thầy cô tôi, vừa là người thầy lại vừa như người cha, người mẹ. Từng trải bao nhiêu, thầy cô lại truyền dạy cho chúng tôi bấy nhiêu, là mong muốn chúng tôi rút lấy kinh nghiệm mà sống sao cho tốt, cho đẹp với đời. Thầy cô là “người lái đò” đưa chúng tôi cập bến tri thức, chỉ bảo bao nhiêu điều hay, ý đẹp. Nếu học trò chúng tôi là những con thuyền nhỏ trên biển xa bao la thì thầy cô chính là những ngọn hải đăng, soi sáng con đường chúng tôi đi.
 4 năm cấp hai là 4 năm tuổi trẻ đẹp nhất của đời tôi. Mỗi năm trôi qua tôi lại trưởng thành hơn rất nhiều. Tôi dần nhận ra cái gì nên làm, cái gì không, cái nào nên phấn đấu, cái nào nên nhường nhịn, phải chăng là đã có sự đổi thay trong suy nghĩ đã từng non nớt ngày nào? Thật ra tôi không hề thay đổi, vẫn là cô học trò với nhiều nông nổi và trẻ con, có chăng chính là sự tác động tốt đẹp mà thầy cô hướng đến tôi, khiến tôi dần hiểu ra giá trị thực sự của cuộc sống này.
 Tôi đoán rằng hầu như ai cũng từng tồn tại một suy nghĩ như thế này: “Giá như thời gian trôi nhanh hơn để mình rời xa mái trường, có thể độc lập mà không cần dựa dẫm vào ai.” Sau này khi đã trưởng thành rồi, con người ta mới thấy hối tiếc về suy nghĩ non trẻ năm nào, ta dần nhận ra những năm tháng học trò mới chính là những năm tháng đẹp nhất của đời người. Tuổi học trò được học hành, được vui chơi, được bao bọc bởi thầy cô và cha mẹ, lại không phải lo toan bất cứ điều chi, lớn lên rồi lại có nhiều thứ phải suy nghĩ, đấu tranh với sức nặng của cuộc sống. Thế mới biết, những năm tháng ở mái trường mới đáng trân quý biết nhường nào.
 Chúng tôi giờ đây đang ở ngưỡng cửa của sự đổi thay, đổi thay từ hình thể cho đến tâm hồn, và thầy cô chính là ngọn đèn soi sáng mà chúng tôi cần nhất. Thời gian trôi nhanh thật, mới ngày nào còn tràn đầy bỡ ngỡ nay đã sắp phải chào tạm biệt những người thầy, người cô, bè bạn và mái trường gắn bó suốt những năm cấp hai. Tôi nhớ lắm bóng dáng rầu rầu của cô tôi khi trách mắng lũ học trò tinh nghịch, nhớ lắm dòng lệ rơi nơi khóe mắt khi sắp phải chia tay, nhớ lắm sự mừng rỡ của cô khi chứng kiến bọn nhóc cá biệt ngày nào nay đã trưởng thành hơn biết bao nhiêu. Có lẽ, chỉ những người học sinh năm cuối cấp như chúng tôi mới hiểu rõ thứ cảm xúc này, thứ cảm xúc như pha trộn giữa sự nuối tiếc, lo sợ và chờ mong. Nuối tiếc những năm tháng đẹp đẽ, lo sợ trước tương lai đầy chông gai và chờ mong những thử thách mà chúng ta sẽ đối mặt trên con đường phía trước.
                                            “Tạ ơn thầy đã dẫn con vào rừng tri thức
                                        Cảm nghĩa cô đã dắt trò đến biển yêu thương”
 Những chú chim non e ấp ngày nào nay đã trở thành những con đại bàng vươn cao đôi cánh sẵn sàng chinh chiến với những khó khăn ngoài kia. Chúng tôi ghi nhớ biết bao công thầy ơn cô – những “người lái đò” đã đưa chúng tôi cập bến tri thức, người sẻ chia bao điều hay lẽ phải, dạy dỗ chúng tôi nên người.
 20/11, chúng tôi không biết chúc gì hơn ngoài mong muốn thầy cô sẽ mãi mãi vui khỏe, tràn đầy tinh thần để tiếp tục truyền đến các thế hệ sau những bài học đường đời bổ ích, lại truyền dạy thêm nhiều lớp nhân tài mới để cùng nhau phát triển và dựng xây đất nước. Kèm theo đó chính là lời hứa của toàn thể học sinh chúng ta, cố gắng phấn đấu hơn trong học tập, trở thành những người con có ích của Tổ quốc để sau này dựng xây nước nhà ngày một phồn thịnh, văn minh hơn, đặc biệt là không để phụ công lao thầy cô đã dạy bảo chúng tôi nên người. 
                                                                                                                                              Thủy Tiên 


CHUYẾN ĐÒ QUÊ HƯƠNG

Sông nước mênh mông vời vợi sóng
Trời chiều gió lạnh tái tê lòng
Ông lão chèo đò ra sức chống
Cho thuyền tới được bến bờ đông. 

Khách sang lòng thấy vô tư lắm,
Kể lể vui đùa chuyện gần xa
Có ai nghĩ đến ông lão ấy
Vắt kiệt sức mình đưa thuyền qua.

Thuyền qua ông lão chở nhẹ phào
Một chuyến đò ngang đã sang bờ
Khách vội rời thuyền đi khắp nẽo
Bỏ thuyền bỏ bến lại bơ vơ.

Hoàng hôn buông nhẹ bên kia bãi
Ông lão lang thang trở lại nhà
Mệt lả nhưng lòng thầm vui vẻ
Hôm nay đắt khách đông người qua.

Người qua đi mãi về đâu nhỉ?
Có nhớ con đò bến quê hương
Đã từng đưa đón ta hôm sớm
Cho ta sang sông tiến thẳng đường.

           Trương Bảo Giang. 

16 tháng 11, 2017

Hoạt động NGLL tháng 11


HOẠT ĐỘNG NGLL THÁNG  11

CHỦ ĐIỂM " TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO "
Nội dung hoạt động " Lễ đăng ký tuần học tốt, tháng học tốt "









09 tháng 11, 2017

Hội thi tiếng hát hay

                                                       

                  Tham gia hội thi tiếng hát hay.
       Song ca Minh Trí và Kim Anh
       Với cac khúc: Thầy Cô là tất cả















 








23 tháng 10, 2017

Ngoại khoá sốt xuất huyết

Sáng nay, giờ chào cờ nhà trường tổ chức ngoại khoá về bệnh sốt xuất huyết.
Sốt xuất huyết là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do siêu vi trùng tên là Dengue (Đăn-gơ) gây ra. Bệnh lây do muỗi vằn hút máu truyền siêu vi trùng từ người bệnh sang người lành. Muỗi vằn có nhiều khoang trắng ở lưng và chân, thường sống ở trong nhà, đậu trong những chỗ tối như gầm bàn, gầm giường, hốc tủ. Quần áo treo trên vách…, chích hút máu người cả ngày lẫn đêm.








16 tháng 10, 2017

Ngoại Khoá 20/10

Lịch sử ra đời Ngày Phụ Nữ Việt Nam (20/10)


Từ năm 1927 những tổ chức quần chúng bắt đầu hình thành và thu hút đông đảo tầng lớp phụ nữ như: Công Hội Đỏ, Nông Hội Đỏ, các nhóm tương tế, tổ học nghề và các tổ chức có tính chất riêng của giới nữ như:
  • Năm 1927 nhóm các chị Nguyễn Thị Lưu, Nguyễn Thị Minh Lãng, Nguyễn Thị Thủy là ba chị em ở làng Phật Tích (Bắc Ninh) tham gia Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, các chị tuyên truyền, xây dựng tổ học nghề đăng ten và học chữ.
  • Nhóm chị Thái Thị Bôi có các chị Lê Trung Lương, Nguyễn Thị Hồng, Huỳnh Thuyên tham gia sinh hoạt ở trường nữ học Đồng Khánh.
  • Năm 1928, nhóm chị Nguyễn Thị Minh Khai cùng Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Thị An tham gia sinh hoạt hội đỏ của Tân Việt. Nhóm này liên hệ với chị Xân, chị Thiu, chị Nhuận, chị Liên thành lập tờ Phụ nữ Giải phóng ở Vinh.
  • Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã ghi: “Nam nữ bình quyền”. Đảng sớm nhận rõ, phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng phải giải phóng phụ nữ, gắn liền giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng phụ nữ. Đảng đặt ra: Phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng (công hội, nông hội) và thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng.
Chính vì vậy, vào ngày 20 tháng 10 năm 1930Hội Phụ nữ phản đế Việt Nam (nay đổi tên là Hội Phụ nữ Việt Nam) chính thức được thành lập, để đánh dấu sự kiện này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định chọn ngày 20 tháng 10 hằng năm làm ngày truyền thống của tổ chức này, đồng thời cũng xem đây là ngày kỷ niệm và tôn vinh phụ nữ Việt Nam, lấy tên là "Ngày phụ nữ Việt Nam".
Trong đấu tranh cách mạng, phụ nữ Việt Nam không chỉ là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến mà chính họ còn là những chiến sỹ cách mạng kiên cường bất khuất, những nữ dân quân du kích, nữ thanh niên xung phong mở đường, tải gạo, tải đạn với ý chí quật cường, chịu đựng gian khổ với tinh thần lạc quan cách mạng, họ chăm sóc thương binh, đồng đội bằng tất cả tấm lòng yêu thương. Đó chính là chị Nguyễn Thị Minh Khai, chị Võ Thị Sáu, chị Lê Thị Hồng Gấm, chị Nguyễn Thị Định, Anh hùng liệt sĩ - Bác sĩ Đặng Thùy Trâm.....Còn có biết bao người phụ nữ thầm lặng, dung dị, mộc mạc; họ cống hiến cho đất nước những người con, người chồng vô cùng yêu quý; họ đã từng mòn mỏi chờ đợi người thân trong chiến tranh, để rồi họ cũng không còn đủ nước mắt khi những người thương yêu của họ không bao giờ trở về; Họ chính là những người mẹ, người bà, người chị của chúng ta. Họ là những người mẹ Việt Nam anh hùng!
Trải qua các thời kỳ cách mạng, vị trí, vai trò của phụ nữ được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao. Bác từng nói: “Giang sơn gấm vóc Việt Nam là do phụ nữ Việt Nam, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”. Trong bản Di chúc bất hủ để lại cho toàn Đảng, toàn dân trước lúc đi xa, Người viết: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên”.
Phụ nữ đã là một phần không thể thiếu góp vào thành công của cách mạng Việt Nam, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trong công cuộc xây dựng đất nước, phụ nữ đã có những đóng góp quan trọng thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
85 mùa thu qua, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam ngày càng lớn mạnh, người phụ nữ Việt Nam yêu nước ngày càng có tri thức, có sức khoẻ, càng năng động, sáng tạo, có lối sống văn hoá, có lòng nhân hậu, quan tâm tới lợi ích xã hội và cộng đồng. Trong công cuộc đổi mới đất nước, những phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam lại được tiếp tục khẳng định và phát huy mạnh mẽ. Các tầng lớp phụ nữ luôn đoàn kết, năng động, sáng tạo, tích cực thi đua, phấn đấu vươn lên đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước, đã xuất hiện nhiều gương phụ nữ tài năng, điển hình tiêu biểu với những cống hiến xuất sắc trong lãnh đạo quản lý, nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh, xoá đói giảm nghèo, xây dựng gia đình hạnh phúc…
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ Việt Nam luôn phấn đấu và trưởng thành về mọi mặt, trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp, địa vị của phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng được nâng lên, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện…Đảng và Nhà nước luôn đánh giá cao những nỗ lực phấn đấu và đóng góp to lớn của phụ nữ trong xây dựng gia đình và trong công cuộc xây dựng đất nước. Họ xứng đáng là những con người được Bác Hồ tặng 8 chữ vàng: "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang".
Những truyền thống, bản sắc tốt đẹp đó đã được các thế hệ phụ nữ Việt Nam kế thừa và phát huy. Có thể nói, đây không chỉ là niềm tự hào của riêng phụ nữ Việt Nam mà còn là một thứ tài sản quý báu của cả dân
Sáng nay, trong giờ chào cờ tổ Ngữ Văn tổ chức ngoại khoá về ngày thành lập hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam





04 tháng 10, 2017

Tết Trung Thu

NGUỒN GỐC, PHONG TỤC VÀ Ý NGHĨA NGÀY TẾT TRUNG THU

Theo các nhà khảo cổ học thì Tết Trung Thu ở Việt Nam có từ thời xa xưa, đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Theo văn bia chùa Đọi năm 1121 thì từ đời nhà Lý, Tết Trung Thu đã được chính thức tổ chức ở kinh thành Thăng Long với các hội đua thuyền, múa rối nước và rước đèn. Đến đời Lê - Trịnh thì Tết Trung Thu đã được tổ chức cực kỳ xa hoa trong phủ Chúa.
Tết Trung Thu có nguồn gốc văn minh nông nghiệp của dân tộc Việt. Thời điểm này khí trời mát mẻ, mùa màng đang chờ thu hoạch, người ta mở hội cầu mùa, ca hát vui chơi.

Theo phong tục người Việt, vào dịp Tết Trung Thu, ban ngày làm cỗ gia tiên, tối đến bày cỗ thưởng nguyệt. Đầu cỗ là bánh mặt trăng, và dùng nhiều thứ bánh trái hoa quả, nhuộm đủ các màu sắc, sặc sỡ, xanh, đỏ, trắng, vàng. Con gái hàng phố thi nhau tài khéo, gọt đu đủ thành hình các bông hoa, nặn bột làm con tôm, con cá ...
Đồ trẻ con chơi trong Tết này toàn là các thứ bồi bằng giấy như là: voi, ngựa, kỳ lân, sư tử, rồng, hươu, tôm cá, bươm bướm, bọ ngựa, cành hoa, giàn mướp, đèn cù, ông nghè đất, con thiềm thừ,... những năm gần đây còn có nhiều đồ chơi bằng nhựa, bằng sắt...
Trẻ em tối đêm rằm dìu dắt nhau từng đàn từng lũ, đám thì nhảy ô, đám thì kéo co, đám thì rước đèn, rước sư tử, trống, thanh la đánh vang cả đường, tiếng reo hò, tiếng đùa rầm rĩ…
 Múa Sư tử (múa Lân)
Người Việt tổ chức Múa Lân trong dịp Tết Trung Thu. Con Lân tượng trưng cho sự may mắn, thịnh vượng và là điềm Và ý nghĩa
Vào dịp Tết Trung Thu, cha mẹ bày cỗ cho các con để mừng Trung Thu, mua và làm nhiều loại lồng đèn thắp bằng nến, treo trong nhà và hoặc tổ chức cho trẻ em rước đèn. Cỗ mừng Trung Thu gồm bánh Trung Thu, kẹo, mía, bưởi và các thứ hoa quả khác. Đây là dịp để các bậc cha mẹ, ông bà tùy theo khả năng kinh tế gia đình thể hiện tình thương yêu con cháu. Đây cũng là dịp để tình yêu gia đình thêm khăng khít, gắn bó.
Cũng trong dịp này, mọi người mua bánh Trung Thu, trà, rượu để cúng tổ tiên, biếu ông bà, cha mẹ, thầy cô, bạn bè, họ hàng và các ân nhân khác.
Ngoài ý nghĩa vui chơi cho trẻ em và người lớn, Tết Trung Thu còn là dịp để người dân ngắm trăng tiên đoán mùa màng và vận mệnh quốc gia. Nếu trăng thu màu vàng thì năm đó sẽ trúng mùa tằm tơ, nếu trăng thu màu xanh hay lục thì năm đó sẽ có thiên tai, và nếu trăng thu màu cam trong sáng thì đất nước sẽ thịnh trị.
Những năm gần đây, Đảng, Nhà nước, các cơ quan, đoàn thể đặc biệt quan tâm và tổ chức nhiều hoạt động cho trẻ em vui Tết Trung Thu, nhất là với những trẻ có hoàn cảnh khó khăn. Các hình thức sinh hoạt văn hóa trong đêm Trung Thu như múa Lân, rước đèn, phá cỗ trông trăng… ở làng quê cũng như thành phố đều mang dấu ấn cộng đồng, thể hiện sự quan tâm của cộng đồng, xã hội đối với trẻ em, thế hệ tương lai của gia đình, đất nước.lành cho mọi nhà.
Đám múa Lân thường gồm có một người đội chiếc đầu Lân bằng giấy và múa những điệu bộ của con vật này theo nhịp trống. Đầu Lân có một đuôi dài bằng vải màu do một người cầm phất phất theo nhịp múa của Lân. Ngoài ra còn có thanh la, đèn màu, cờ ngũ sắc, có người cầm côn đi hộ vệ đầu Lân... Đám múa Lân đi trước, người lớn trẻ con đi theo sau.

02 tháng 10, 2017

Đại Hội Liên Đội

Chiều nay, Liên đội Trường THCS Lý Tự Trọng đã tiến hành Đại Hội Liên Đội nhằm bầu ra BCH mới và phấn đấu thưc hiện tốt bảng phương hướng đội năm học 2017-2018